Truy cập

Hôm nay:
347
Hôm qua:
153
Tuần này:
785
Tháng này:
3153
Tất cả:
80211

Bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa cồng chiêng và tục hát “Séc Bùa”của người Mường tại Làng Đồng Lão, Xã Cẩm Ngọc, Huyện Cẩm Thủy- Tỉnh Thanh Hóa.

 

CHUYÊN ĐỀ: BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA

 

          “Ai ngân vang câu hò, từ bãi Ấn làng Khuên,về Cẩm Ngọc,Cẩm Vân,vọng đôi bờ sông Mã.Ôi tha thiết bao la một vùng quê xanh tươi mượt mà, một vùng ngô bao la Cẩm Thủy quê hương ta”…

               Các bạn thân mến!

          Đó là những lời ca thiết tha nồng ấm về quê hương Cẩm Thủy thân yêu của chúng ta qua ca khúc “Cẩm Thủy chiều nhớ” của nhạc sĩ Đồng Tâm.Với những lời ca mộc mạc giản dị đó quê hương Cẩm Ngọc của chúng tôi đã phần nào như hiện ra trước mắt các bạn.Một vùng quê thơ mộng nằm ven bờ sông Mã với nhiều nét văn hóa truyền thống của cha ông từ ngàn xưa vẫn đang được bảo tồn, lưu giữ và phát huy cho đến tận ngày nay. Giữa nhịp sống hiện đại, ít ai ngờ ở một vùng quê nghèo tại huyện Cẩm Thủy (Thanh Hóa) vẫn còn giữ được nhịp chiêng trống ngàn đời của người Mường.Chúng tôi muốn giới thiệu với các bạn về văn hóa cồng chiêng và tục hát “Séc-bùa” trong đời sống của người Mường ở thôn Đồng Lão- xã Cẩm Ngọc - huyện Cẩm Thủy- tỉnh Thanh Hóa.

            Cẩm Ngọc là xã nằm ở phía Đông Nam huyện Cẩm Thủy, có Quốc lộ 217 chạy qua.Đây là một vùng đất cổ, có bề dày lịch sử và văn hóa.Trên mảnh đất này cư dân từ nhiều miền quê đã hội tụ về đây, cùng kề vai sát cánh, đấu tranh với thiên tai địch họa, bằng sức mạnh đoàn kết, nhất trí một lòng, nhân dân Cẩm Ngọc đã lập được nhiều thành tích trong chiến đấu, lao động và sản xuất, tạo dựng nên xóm làng trù phú và giàu đẹp.

           Làng Đồng Lão – xã Cẩm Ngọc có vị trí địa lí phía Đông giáp Lâm trường đội Thung Bằng; phía Tây Nam giáp làng Song Nga; phía Bắc giáp làng Đồng Chạ( xã Cẩm Phong); phía Tây giáp với làng Tử Niêm( xã Cẩm Phong).

            Theo sắc phong Thành hoàng làng thì làng Đồng Lão được hình thành từ thế kỷ XV-XVI, thời kì chiến tranh Lê- Mạc.Khi đó, ông Trương Nghĩa người Mường Bứa đã đứng lên chiêu mộ binh lính ủng hộ nhà Lê.Ông chiêu mộ được 219 người trong đó ở Cẩm Thủy có 54 người, Mường Bứa có 165 người.Ông cho đóng quân tại Eo Lê lên đến Cẩm Thủy.Sau một tháng chỉ huy quân của ông đã chiến thắng quân nhà Mạc, sau chiến thắng ông đã cho quân về quê làm ăn còn ông ở lại vùng đất làng Đồng Lão ngày nay khai hoang lập làng sinh sống.Sau đó ông bị tàn quân nhà Mạc theo dõi và truy bức, ông không đầu hàng giặc và để giữ khí tiết của mình ông đã tự sát.Khi ông chết có một gò mối mọc lên và bao trùm lấy xác ông.Nhân dân trong làng đã xây dựng một ngôi đình ngay trên phần mộ của ông thờ cúng và sau này ông được phong là Thành hoàng làng, người có công với nước và là người có công khai đất lập làng.

          Năm 1806, ông Quách Công Được ở làng Rì, xã Tự Do, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đã vào vùng đất này khai hoang và lập nghiệp.(Vì vậy Đồng Lão thường được gọi là người "Mường ngoài" để phân biệt với người "Mường trong" có nguồn gốc từ vùng núi Bá Thước (Thanh Hóa)).Thấy nơi đây là vùng đất tốt nên sau đó họ Quách ở làng Xê vào, họ Quách ở đồi Đào huyện Thạch Thành sang, họ Quách ở làng Rồng ( xã Cẩm Long) lên, họ Bùi ở Mường Sử, Mường Đẹ huyện Thạch Thành sang, họ Hà ở Bá Thước di cư xuống.

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, làng có 4 dòng họ: họ Quách, họ Bùi, họ Hà, họ Nguyễn.Dân số của làng có khoảng 28 hộ với 224 nhân khẩu và duy nhất chỉ có người Mường sinh sống.Đến những năm đầu thập niên của thế kỷ XX, thực hiện chủ trương của Nhà nước, nhân dân các huyện miền xuôi lên xây dựng vùng kinh tế mới, dân cư của làng ngày một tăng nhanh.Hiện nay làng Đồng Lão có 199 hộ với 832 nhân khẩu.Thành phần dân tộc gồm có 2 dân tộc Mường và Kinh, trong đó dân tộc Mường chiếm 58%, dân tộc Kinh chiếm 42%.

 

Dân làng Đồng Lão chủ yếu theo tư tưởng của Đạo Phật và thờ cúng tổ tiên, thờ các vị thần.Điều đó được thể hiện ở công trình văn hóa của làng như đình thờ Thành hoàng làng.Song song với đời sống văn hóa tâm linh, người dân làng Đồng Lão rất quan tâm đến sinh hoạt văn hóa, lễ hội như: Lễ hội kỳ phúc  

( mùng 10 tháng Giêng), lễ hội xuống đồng( ngày 11 tháng 5), lễ thượng điền( ngày 15 tháng 7)…Trong những ngày diễn ra lễ hội, ngoài phần lễ dâng cúng vị Thành hoàng làng,làng còn tổ chức các trò chơi dân gian như: chơi đu, ném còn, chọi gà, chơi cờ người...và một điều không thể thiếu được trong bất kì một lễ hội nào của làng đó là phần biểu diễn của Phường bùa với tục hát “Séc- bùa” của đội cồng chiêng làng Đồng Lão.

Trên đây các bạn nhận thấy chúng tôi đề cập đến 2 khía cạnh đó là: dàn cồng chiêng và nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng của Câu lạc bộ cồng chiêng làng Đồng Lão( trong đó chủ yếu là tục hát – diễn xướng “Séc bùa”).

Theo Luật Bảo vệ di sản văn hóa Việt Nam năm 2001 thì “Cồng chiêng” thuộc “Di sản văn hóa vật thể” – là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.Còn nghệ thuật biểu diễn tấu  cồng chiêng cùng tục hát Séc bùa thuộc “Di sản văn hóa phi vật thể” – là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, lưu truyền bằng truyền miệng…trong đó có diễn xướng dân gian, lễ hội…Như vậy cồng chiêng và tục diễn xướng “Séc bùa” của người Mường – làng Đồng Lão – Xã Cẩm Ngọc – Cẩm Thủy  được gọi chung là “Di sản văn hóa Việt Nam”.

Khái niệm về cồng hoặc chiêng đối với người Mường có lẽ không phân biệt( là một).Ví dụ trong Mo “Đẻ đất, Đẻ nước của người Mường Cẩm Thủy có câu:

                                         Con trai đi trước khiêng trống

                                         Con gái đi sau xách chiêng

    Hoặc:                           Chiêng bảy, chiêng mười đánh lên cho giòn

                                         Chiêng cái, chiêng con kêu lên cho chộn rộn.

Dù gọi là cồng hay chiêng thì loại nhạc cụ này gần gũi và gắn bó với người Mường qua nhiều năm, nhiều đời.Dàn cồng chiêng của người Mường có từ 11 đến 12 chiếc được phân biệt từ nhỏ đến lớn bởi kích cỡ và âm thanh khác nhau. Ở đây, dường như tất cả mọi người đều có thể tham gia biểu diễn với một dàn cồng hoàn chỉnh 12 cái ở bất cứ vị trí nào như một nghệ sĩ thực thụ. Từ xa xưa cho đến tận bây giờ, tiếng cồng luôn có một ý nghĩa tâm linh và một giá trị văn hóa vô cùng to lớn trong đời sống của người Mường. Mọi thông điệp vui, buồn đều được thể hiện trong tiếng cồng theo những quy định đã được thỏa hiệp trước như một thứ mật mã âm thanh riêng đầy bí ẩn không phải ai cũng có thể hiểu được. Người Mường tin rằng không thứ âm thanh nào có thể hay và vang xa được như tiếng cồng của họ. Mỗi tiếng có thể vang xa cả nghìn dặm, có thể khiến trẻ con ngừng khóc, gió ngừng thổi, cây ngừng lay, sông suối ngừng chảy, chim chóc ngừng hát ca...

 Hiện nay ở CLB Văn hóa nhạc cụ dân tộc làng Đồng Lão, xã Cẩm Ngọc còn lưu giữ một bộ chiêng gồm 9 cái, tương ứng với 9 nốt nhạc. Đây là một trong những bộ cồng, chiêng quý của cộng đồng người Mường bởi những bộ chiêng ở nơi khác thường chỉ biểu thị cho 4 nốt nhạc. Bộ cồng chiêng đó là tài sản vô giá của làng Đồng Lão, xứ Thanh đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ, tuổi đời của chúng dễ cũng phải đến 600 năm.

 

Câu lạc bộ Cồng Chiêng Đồng Lão – Cẩm Ngọc – Cẩm Thủy

 

Theo Ông Quách Văn Thư - một nghệ nhân trong CLB cho biết: “Chiêng của đồng bào dân tộc Mường ở Cẩm Thủy có nét khác một số địa phương là chiêng ở đây có núm. Núm chiêng và dùi đánh chiêng, cồng tượng trưng cho quan hệ âm, dương mang ý nghĩa phồn thực. Tuy nhạc khí dân tộc cả người Kinh và người Mường đều có cồng chiêng, nhưng có một điểm khác nhau là cồng chiêng ở người Mường có bộ và con gái cũng tham gia dàn cồng chiêng”.

 

 

 

 

 

Dàn cồng chiêng do Hội Phụ nữ  Đồng Lão biểu diễn tại lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân – Xã Cẩm Ngọc.

Các bạn ạ!

Cồng chiêng là nhạc cụ mang giá trị văn hóa quan trọng trong đời sống cộng đồng của đồng bào dân tộc Mường. Cồng chiêng tham gia vào tất cả các hoạt động trong đời sống người Mường từ khi sinh ra cho đến khi về với đất mẹ. Gần như tất cả các nghi lễ ở đình như cầu mùa, chúc tết, mừng nhà mới, đám cưới, đám tang, lễ hội làng... đều có sự hiện diện của tiếng chiêng.Trước đây Chiêng còn là dụng cụ thông tin liên lạc, báo hiệu, phát lệnh khi bản làng có cướp bóc, giặc giã để tập hợp nhân dân cùng đoàn kết bảo vệ sự bình yên hay cũng là tín hiệu để trai thanh, gái lịch hẹn hò.Chính vì vậy, người Mường coi cồng chiêng là báu vật trong ngôi nhà của mình và giữ gìn cẩn thận qua các thế hệ.

Cồng chiêng gắn bó với người Mường không chỉ để thỏa mãn nhu cầu thưởng thức âm nhạc mà nó còn có vai trò lớn trong lao động, sản xuất. Trong khi trống đồng là loại vật linh được coi là quyền sở hữu của tầng lớp lang đạo lớn xưa thì cồng chiêng chiếm lĩnh, lan tỏa trong không gian rộng lớn, in sâu, hòa đậm trong mỗi bản làng, gia đình một cách dung dị,mộc mạc.

Nghệ nhân  Thư nói:"Từ xưa đến nay, chiếc cồng không thể vắng mặt trong bất cứ một sự kiện mang tính cộng đồng nào của người Mường. Vì âm thanh của nó có thể vang rất xa, ngân rất lâu cho nên tiếng cồng được quy định để phát đi những thông điệp quan trọng tới tất cả những người dân sinh sống trong vùng. Chỉ cần nghe tiếng cồng hiệu lệnh, người ta có thể biết ngay đấy là sự kiện gì, ở đâu và phải hành động như thế nào. Những quy ước có thể vô cùng phức tạp đối với những người "ngoại đạo" đó vẫn được các thế hệ người Mường truyền từ đời này qua đời khác và duy trì đến tận ngày nay. Tuy nhiên, chỉ trong những dịp đặc biệt, người ta mới huy động đủ 12 chiếc cồng còn thông thường, trong những dịp như đám cưới, mừng nhà mới, cơm mới... họ chỉ cần sử dụng 2 chiếc là cồng số 1 và cồng số 2 hoặc sử dụng 1 chiếc cồng kết hợp với trống tùy theo các hoàn cảnh khác nhau". Ông Thư cho biết thêm “ngoài 12 chiếc cồng, người ta còn dùng thêm 2 chiếc Mèn, nhỏ, phẳng cũng bằng đồng cổ, gần giống như chiếc đĩa lớn để phụ họa thêm trong khi biểu diễn”.

      

Chuyện thú vị về bộ cồng chiêng cổ nhất xứ Thanh - Ảnh 1

Nghệ nhân Quách Văn Thư đang biểu diễn cồng

 

      Có thể khẳng định người Mường rất trân trọng cồng chiêng. Bình thường khi không sử dụng, họ đặt chiêng theo tư thế nhất định. Với chiêng, người Mường cho rằng nó cũng có miệng nên khi đặt người ta đặt ngửa lên, cho phần núm xuống, rất ít khi người Mường đặt úp vì họ cho rằng như thế là bưng miệng chiêng làm cho nó bị câm, khi cần đánh không ra tiếng. Khi tấu chiêng, người Mường không lấy tay đấm hay vỗ vào, không lấy que hay dùi cứng để gõ mà họ đánh bằng dùi.Dùi đánh chiêng được làm bằng que cứng, đầu đánh vào chiêng được bọc vải tạo nên cái đùm( Vật liệu để bọc những  chiếc dùi dùng để đánh cồng phải được bọc một đầu bằng thuộc da, phơi khô để vừa cho những âm thanh tốt nhất vừa  không làm ảnh hưởng đến bề mặt cồng.Bên ngoài bọc một lớp vải đỏ). Với quan niệm vạn vật hữu linh, chiêng là vật thiêng, vật quý trong nhà nên người Mường tin rằng, chiêng cũng có vía (linh hồn). Vào mùa xuân, sau tết năm mới (Nguyên đán) khi các Phường bùa tổ chức đi Séc bùa họ thường gọi thức hồn chiêng bằng một bài hát khấn ngắn, người Mường gọi là bái Zẩyl chiêng - đánh thức chiêng.

           Ông Kim Duy Hòa (trưởng thôn, chủ nhiệm CLB Cồng chiêng Đồng Lão) cho biết “vì những ý nghĩa tâm linh và giá trị văn hóa quan trọng của nó cho nên chiếc cồng luôn được coi như một vật thiêng liêng, thần thánh trong cuộc sống của người Mường. Nhưng vì mỗi chiếc cồng phải đổi bằng vài con trâu, mua bằng rất nhiều vàng bạc cho nên không phải ai cũng được sở hữu nó trừ những gia đình thật sự giàu có. Bởi vậy, từ thời xa xưa, người ta coi chiếc cồng là nấc thang đánh giá sức mạnh kinh tế của mỗi gia đình và thủ lĩnh bao giờ cũng là người giàu nhất, có nhiều cồng chiêng nhất. Chúng sẽ được truyền lại cho những thế hệ sau này như vật gia bảo của dòng họ, mang lại những điều may mắn, sự thịnh vượng cho con cháu ngàn đời sau”.

                  

 

 Ông  Quách Văn Tuân(Bí thư chi bộ) và Ông Kim Duy Hòa (trưởng thôn) thôn Đồng Lão

 

Trong suốt thời gian chiến tranh, rồi giải thể Hợp tác xã nên hầu hết số cồng chiêng ở làng đã bị thất truyền. Hiện nay ở làng Đồng Lão chỉ có 3 gia đình là còn lưu giữ được những chiếc cồng cổ đã được lưu truyền ít nhất qua 5 thế hệ. Trong đó, nhà nghệ nhân Quách Văn Thư có 3 cái, bao gồm 1 chiếc cồng cái, 1 chiếc cồng số 2, 1 chiếc cồng số 12 (chiếc khùm) trong bộ cồng 12 cái.Gia đình ông Hà Ngọc Tương 3 cái, gia đình ông Đường có 2 cái. Những chiếc cồng hiếm hoi còn sót lại này hiện đang được cất giữ vô cùng cẩn thận tại các gia đình, chỉ khi nào tham gia biểu diễn trong các hội hè, đình đám hoặc các cuộc thi, các lễ hội cồng chiêng cấp tỉnh, cấp quốc gia, chúng mới được mang ra sử dụng. Đối với những người dân Đồng Lão, 9 chiếc cồng cổ quý hiếm này giống như những vị thần linh thiêng, che chở, bảo vệ cho cuộc sống của họ cho nên thỉnh thoảng lại có người tìm đến hỏi mua, sẵn sàng trả tiền tỷ nhưng chẳng ai chịu bán.

Chuyện thú vị về bộ cồng chiêng cổ nhất xứ Thanh - Ảnh 2

 

Dàn Cồng Chiêng cổ nhất xứ Thanh (Đồng Lão – Cẩm Ngọc – Cẩm Thủy)

Thưa các bạn!

Khi nói đến nghệ thuật biểu diễn văn hóa cồng chiêng không thể không nói tới tục hát “Séc bùa” của người Mường . Tục hát séc bùa  là một sinh hoạt văn hóa trong đời sống của đồng bào các dân tộc Mường nói chung, người Mường ở Đồng Lão- Cẩm Ngọc – Cẩm Thủy- Thanh Hóa nói riêng.
Séc Bùa (có nơi còn gọi là Sắc Bùa) là một sinh hoạt văn hóa ở đỉnh cao về nghệ thuật diễn tấu âm nhạc cồng chiêng, về kết cấu của tích trò, về ngôn ngữ văn học và về sự gắn kết của tập thể cộng đồng trong mường, bản.

Hội Séc Bùa được tổ chức và biên chế thành phường bùa, hội bùa, dàn cồng, hội cồng, phường cồng( tùy thuộc vào cách gọi của từng Mường, bản). Cách tổ chức dàn cồng hội Séc Bùa rất chặt chẽ và có tính khoa học cao. Kể từ cồng I (con số1) trở xuống, Cồng I là người dẫn dắt dàn cồng diễn tấu, thường người đi đầu là một nghệ nhân giỏi, chơi cồng giỏi hát xướng và bọ meeng …Số cồng được huy động để diễn tấu cho hội Séc Bùa tùy thuộc vào khả năng và sở thích của từng bản, từng Mường.

Trước đây, Mỗi năm cứ chuẩn bị đến tết Nguyên đán từ ngày 27 hoặc 28 âm lịch, các ông có chức sắc trong Mường, trong bản, các thành viên là những người giỏi chơi nhạc cồng chiêng tập trung lại để vui hội Séc Bùa ngày xuân.Nhưng từ những năm 90 trở lại đây Tục hát Séc bùa ở Đồng Lão thường được tổ chức và diễn ra trong những sự kiện lớn của làng như: hội mừng năm mới, lễ hội khai hạ, hội xuống đồng, hội kỳ phúc, hoặc các sự kiện lớn của làng. Không những vậy Câu lạc bộ cồng chiêng của Đồng Lão còn vinh dự được tham gia vào nhiều các sự kiện văn hóa trọng đại của xã, của huyện, tỉnh …

    Trong hội Séc bùa ở Đồng Lão, đội hình thường có 9 đến 15 người tùy thuộc vào quy mô hoạt động và tính chất của lễ.Trong đội hình diễn xướng của phường bùa có 2 cái Mèn, còn lại chia cho cồng.Đội hình có cả nam và nữ.Ông chủ phường bùa hay còn gọi là người “ Khoát rác” là người chính hát xướng, hát những lời ca của Phường bùa. Sau đó là những lời ca vang lên từ dàn cồng. Có nhiều bài nói xường với nội dung khác nhau để chúc, chưa kể phần ứng tác của các nghệ nhân vận cảnh cho phù hợp với hoàn cảnh của từng gia đình, từng lễ hội…

           Phường Séc bùa Đồng Lão biểu diễn trong dịp lễ hội

Về tiết tấu và giai điệu lối diễn tấu âm nhạc cồng chiêng hội Séc Bùa của các dân tộc Mường - Thanh Hóa cơ bản là gần giống nhau.Tuy nhiên có những chi tiết về tiết tấu hoặc về âm hình diễn tấu khác nhau là do phong tục tập quán ở mỗi Mường, mỗi bản khác nhau mà có. Do đó khi ta nghe các phường, các hội tấu lên, có phường diễn tấu và lối chơi sôi nổi, có phường diễn tấu và lối chơi êm ái, nhẹ nhàng, có phường chơi tiết tấu kép và có phường chơi tiết tấu đơn, có phường sử dụng phần giai điệu âm cao (cồng âm cao) có phường sử dụng ở phần giai điệu âm trầm (chiêng, ràm) để tránh sự nhàm chán.
Hội chúc Séc Bùa chia làm 4 phần chính (Hay còn gọi là các Voong):

Phần I : Bùa đi đường (Phường bùa diễn tấu ở ngoài đường)

Phần II : Khoát rác (Phường bùa diễn tấu xin phép nhà chủ mở cổng)

Phần III : Lên nhà sàn (Phường bùa diễn tấu xin phép chủ nhà lên nhà sàn hoặc vào phần chính của lễ hội)

Phần IV: Kết thúc hội

       Theo đó, mỗi bài cồng có tất cả là 4 voong, biểu diễn trong nửa tiếng đồng hồ, nhưng tùy từng trường hợp, hoàn cảnh cụ thể, người ta có thể rút ngắn đi từ 1 đến 2 voong. Trong đó, voong 3 là voong khó chơi nhất. Bởi đây vừa là voong dài nhất vừa có nhịp điệu trúc trắc nhất, đòi hỏi sự phối hợp chuẩn xác, ăn ý của cả dàn cồng với nhau. Trong dàn cồng 12 cái, cồng cái là chiếc cồng số 1, có kích thước nhỏ nhất nhưng lại có âm thanh cao nhất, vang xa nhất, đóng vai trò "quản ca" cho tất cả những chiếc cồng còn lại. Những chiếc cồng được đánh số từ 1 đến 12 sẽ có kích thước lớn dần. Chiếc thứ 12 có kích thước lớn nhất, tiếng trầm nhất, thường được gọi bằng một cái tên khác là "khùm". Vì đây là một chiếc cồng rất lớn, to và nặng cho nên người chơi thường phải có một sức khỏe thật tốt, một thân hình cao lớn vạm vỡ nếu không sẽ không chịu nổi sức nặng của nó.

Những người tham gia Phường bùa làng Đồng Lão đều là những nông dân ngày thường vẫn tất bật với ruộng nương nhưng khi làng, xã có việc hoặc sự kiện lớn đều tích cực tham gia.Hàng đêm sau một ngày lao động vất vả vẫn tranh thủ thời gian rãnh rỗi ra nhà văn hóa thôn để tập những bài cồng mới.Người hướng dẫn cho các mẹ, các chị ở đây không ai khác chính là nghệ nhân Quách Văn Thư và ông cũng chính là chủ Phường Séc bùa của làng.

Chúng tôi xin được giới thiệu với các bạn toàn bộ nội dung bài Cồng “ Séc bùa” của Phường bùa làng Đồng Lão – xã Cẩm Ngọc do nghệ nhân Quách Văn Thư làm chủ( Khoát rác) biểu diễn trong dịp mừng năm mới:

1.Về bài Cồng (Séc bùa):

          - Voong 1 (lời 1):

          Bôống bêênh  khùm, bêênh bôống bêênh khùm.

          Bôống bêênh  khùm, bêênh bôống bêênh khùm. 

          Bôống bêênh  khùm, bêênh bêênh bôống bêênh bôống khùm.

          - Voong 2 (lời 2): Khoe Cồng: Âm thanh của từng chiếc cồng vang lên và có tiếng đệm Khùm của cả dàn Cồng; gồm 03 lượt khoe.

          + Lượt 1: một lần.

          Bôống Bôống Bôống khùm

          Bêênh bêênh bêênh khùm

          Bùm bùm bùm khùm

          ....lần lượt cho đến vị trí của người cầm Cồng cuối cùng.

          + Lượt 2: 2 lần

          + Lượt 3: 3 lần.

          - Voong 3 ( lời 3):

          Bêênh bùm bôống khùm, bùm bôống bêênh bùm bôống khùm.

          Bêênh bùm bôống khùm, bùm bôống bêênh bùm bôống khùm.

          Bêênh bùm bôống khùm, bùm bôống bêênh bôống bùm bôống khùm.

          - Voong 4 (lời 4):

          Quay lại voong 1 (Bôống bêênh  khùm, bêênh bêênh bôống bêênh bôống khùm) để vào voong 4:

          Bôống bùm bùm khùm.

          Bêênh bùm bùm khùm.

          Bùm bùm bùm khùm.

          ...lần lượt từng chiếc Cồng vang lên để Cồng Khùm đệm làm chủ; voong này đánh quay lại 03 lần.

          Phần kết: Quay lại voong 1 để chào kết thúc

        Bôống bêênh  khùm, bêênh bêênh bôống bêênh bôống khùm.

          2. Về phần lời xướng (Khoát rác)

          2.1. Khoát rác: Là lời của người dẫn đầu đoàn Phường Bùa khi đi chúc đầu xuân năm mới, một bài Khoát rác có 03 đoạn do người dẫn đầu chủ động xướng lên để chào, chúc và tạm biệt gia chủ; các đoạn của bài Khoát rác cũng được phối hợp với đoàn Phường Bùa theo từng đoạn để cho phù hợp và nhịp nhàng với các bài Cồng.

          Lời Khoát rác được diễn tả theo lối nói bằng tiếng dân tộc Mường, gần giống với điệu hát xường của người Mường. Người Khoát rác phải biết ứng khẩu nhanh cho phù hợp với từng điều kiện, từng hoàn cảnh của từng gia đình để mang lại những lời chúc tốt đẹp và phù hợp cho gia chủ, đồng thời cũng sẽ nhận được những lời chúc và quà của gia chủ chúc lại đoàn Phường bùa.

          2.2. Lời dịch bài khoát rác.

          - Lời giới thiệu:

          Khoát rác anh em Phường Bùa chúng tôi, ngoài đồng trông vô thấy ba chuồng cửa kép, cửa cái nhà ông bà còn đóng, cửa ngoài nhà ông còn đang cài kín. Anh em Phường Bùa trông đi ngó lại, thấy cột cửa cái nhà ông bằng cây Bông Bái, Cái cửa  nhà ông bằng cây Đu đu (cây xoan), ngày trước thấy ông dắc đôi Trâu, đôi Bò ra đi kéo gỗ, vừa đi kéo vừa hỏi mượn thợ. Không biết ông mượn thợ bên Bắc hay thợ bên Đông? vì nghe nói thợ bên Bắc đã khéo tay thợ bên Đông cũng không kém. Chúng tôi thấy ở dẫy cột nhà có chạm Kiến đen, Kiến vàng, ở hàng trên chạm con Lợn, con Nai rừng đang đi ăn, ở bên trên nữa chạm đôi chim Khách đang ăn quả Mí mùn, lại còn trạm thêm đôi Đèn lồng bên trên và trạm thêm đôi Công đang múa lộn...anh em Phường Bùa chúng tôi xin ông mở cửa để cho đoàn Phường bùa vào nhà chúc gia đình nhân dịp đầu xuân năm mới. Chúng tôi thấy ông bà đang ở trên nhà, xin hãy cho một chú nhỏ nhỏ xuống mở cửa để cho anh em Phường bùa chúng tôi vào chúc mừng năm mới.

          - Lời chúc:

          Cảm ơn ông bà đã mở rộng cánh cửa để mời anh em Phường bùa chúng tôi vào nhà chúc mừng đầu xuân năm mới. Anh em Phường bùa chúng tôi trông đi ngó lại thấy nhà ông bà có vườn trầu đằng sau, rặng cau phía trước, người ta nói nhà ông cần cù lao động, gia đình hạnh phúc vừa giàu sang lại còn phú quý, lúa gạo đầy bồ, đầy rương và còn bán đi để làm giàu sang cho gia đình và cho con cái. Xin cảm ơn ông cũng đã ban và tặng phúc cho anh em Phường bùa chúng tôi nhận dịp đầu xuân năm mới, chúng tôi xin chúc cho ông bà sống lâu bạc đầu như con chim Chà Và và sức khỏe dồi dào làm ăn giàu sang phú quý ...khoát rác.

          - Lời chào tạm biệt.

          Khoát rác ...anh em Phường bùa chúng tôi, ăn quả nhớ người trồng cây, xin cảm ơn ông cùng bà đã ban tài tiếp lộc cho chúng tôi, anh em chúng tôi đánh bùa cũng đã có nếp, xếp bùa cũng đã có hàng. Bây giờ anh em Phường bùa chúng tôi xin lên đường đi chúc các gia đình khác cho sáng đường kẻo trời tối ...khoát rác.

         Các bạn thân mến!

           Trong điều 12 Luật di sản văn hóa Việt Nam quy định: Di sản văn hóa Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích Phát huy giá trị di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội; Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế.

           Thế giới ngày càng vận động đến xu hướng hội nhập và phát triển. Ảnh hưởng và giao lưu văn hóa ngày càng mạnh mẽ. Ngày nay chúng ta không thể không tiếp nhận văn hóa thế giới bởi lẽ nếu không tiếp nhận văn hóa thế giới thì tình trạng lạc hậu, chậm phát triển càng thêm trầm trọng và nặng nề. Điện thoại di động, máy vi tính, ti vi cũng như rất nhiều những sản phẩm điện tử, công nghệ sinh học, hóa học, lý học đang tràn ngập thị trường và trở thành những điều không thể thiếu trong đời sống vật chất và tinh thần của con người Việt Nam. Bên cạnh mặt tốt bởi ích lợi của nó cũng biểu hiện rất nhiều lo ngại về ảnh hưởng mặt trái của nó. Một số biểu hiện cần phải được quan tâm suy ngẫm để làm sao những giá trị văn hóa truyền thống mang bản sắc văn hóa Việt Nam được lưu giữ, bảo tồn và phát huy trong đời sống của con người Việt Nam và nhất là trong thế hệ trẻ chúng ta. Nghệ thuật văn hóa Việt Nam truyền thống với nhiều thể loại, loại hình  hiện đang bị mai một. Sở dĩ những thể loại, loại hình đó tồn tại lâu đời và có sức hấp dẫn mạnh mẽ vì nó là văn hóa được xây dựng trên nền tảng của nền nông nghiệp lúa nước. Ngày nay khi công nghiệp tác động mạnh mẽ vào đời sống thì các thể loại đó không còn khả năng hấp dẫn, cuốn hút mạnh mẽ. Thanh niên ngày nay không còn chú tâm đến các loại hình văn hóa dân tộc,  ngay cả với các bạn học sinh sinh ra từ các bản làng cũng không còn biết gì đến những nét văn hóa truyền thống của dân tộc mình trong đó có văn hóa cồng chiêng của người Mường.Đây là một thực tế rất đáng lo ngại nếu như chúng ta không tìm ra giải pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng này.

       Giữ gìn bản sắc văn hóa không có nghĩa là loại bỏ các yếu tố văn hóa ngoại lai. “Bảo tồn bản sắc văn hóa” là giữ để cho không mất đi,  “Bảo tồn” không có nghĩa là chỉ giữ lấy mà còn phải làm cho nó phát triển lớn mạnh hơn, giàu có hơn và vẫn được bổ sung các yếu tố mới. Thế hệ trẻ chúng ta cần phải hiểu rõ  khái niệm này để có hành động đúng đắn hơn, góp phần giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng của dân tộc mình.

      Giá trị của nghệ thuật dân gian cồng chiêng dân tộc Mường đã được khẳng định trong vị trí  đời sống văn hoá của cộng đồng đồng bào dân tộc Mường và đã trở thành bản sắc văn hoá truyền thống tại Cẩm Ngọc – Cẩm Thủy.Trong những năm qua, những việc đã làm được trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị của văn hoá cồng chiêng trong cộng  đồng đã được các cấp, các ngành từ Tỉnh, huyện và đặc biệt là sự quan tâm, tạo nhiều điều kiện để bảo tồn, giữ gìn và phát huy của Các bác lãnh đạo địa phương xã Cẩm Ngọc.Tuy nhiên mới chỉ là bước đầu, cần được tiếp tục quan tâm đầu tư về mọi mặt, đặc biệt là về kinh phí để tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu và phục hồi những dàn cồng chiêng đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng. Trên cơ sở đó tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền dạy cho các lứa tuổi là con em đồng bào dân tộc Mường để phổ biến nghệ thuật cồng chiêng đến mọi người trong cộng đồng .
Trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật cồng chiêng, một yếu tố vô cùng quan trọng có ý nghĩa quyết định đó là nhân tố con người. Các nghệ nhân dân gian cao tuổi đang nắm giữ nghệ thụât diễn tấu cồng chiêng là những " Báu vật sống" sẽ là người trao truyền nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng theo nghệ thuật dân gian đã được bảo lưu trong trí nhớ của các nghệ nhân. Có thể nói, không có nghệ nhân dân gian thì không có nghệ thuật trình diễn cồng chiêng. Các nghệ nhân sẽ là nhân tố đóng góp tích cực đối với công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng.

Lớn lên trong những tiếng cồng vang rừng, vang núi, nghệ nhân Quách Văn Thư là người hiểu hơn ai hết giá trị của chúng trong văn hóa Mường. Ngay từ những năm còn rất nhỏ, chỉ khoảng 7 - 8 tuổi, ông đã có thể thuộc và chơi được cả 4 voong (tức 4 vòng) của bài cồng truyền thống. Cụ năm nay đã gần 80 tuổi - cái tuổi mà như Bác Hồ kính yêu của chúng ta từng nói “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”.Nhưng trong ông lúc nào cũng tràn đầy nhiệt huyết mỗi khi biểu diễn cùng Phường bùa hay khi dạy các bà, các anh chị; hay khi truyền dạy cho các cháu học sinh chúng mình.Và đặc biệt mỗi khi có những đoàn khách đến làng tìm hiểu về văn hóa cồng chiêng dù có đang mệt hoặc bận công việc gia đình cụ cũng sẵn sàng tiếp đón và giới thiệu tỉ mỉ bằng vốn kiến thức tích lũy của mình.Ở Đồng Lão những người  biết diễn tấu chiêng thì nhiều nhưng để am hiểu toàn diện, yêu cồng đến mức say mê như cụ Thư thì chỉ duy nhất một.Chúng tôi ý thức rõ điều này nên đang tích cực theo ông để được ông truyền dạy cho những tinh túy là truyền thống của cha ông xưa…nhằm kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc góp phần công sức nhỏ bé xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

 

 

Ông Quách Văn Thư đang giới thiệu cồng chiêng

 cho các cháu học sinh là con em trong làng

 

Giữ gìn,bảo tồn và phát huy  bản sắc văn hóa phi vật thể cồng chiêng và tục hát “Séc bùa” là một yêu cầu vừa lâu dài, vừa cấp thiết. Có lẽ trước hết mỗi cá nhân chúng ta ( chúng tôi và các bạn) phải nhận thức được tầm quan trọng của việc giữ gìn bản sắc văn hóa theo đúng cách nghĩ: mọi cái sẽ đi qua, cái còn lại của mỗi dân tộc là văn hóa.  Chúng ta biết được trách nhiệm của chúng ta là cẩn phải tuyên truyền trong làng, bản; cho các cháu học sinh trong thôn được nghe nghệ nhân Quách Văn Thư giới thiệu về nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng, được ông trực tiếp cầm tay dạy cho gõ những nốt chiêng đầu tiên cảm thấy cảm xúc dâng trào và lòng tràn ngập tình yêu mến văn hóa cồng chiêng của xứ sở mình. Hiểu được chỗ hay và biết cách thưởng thức,các cháu học sinh cũng như chúng tôi ngày nào sẽ bớt thờ ơ với các truyền thống văn hóa mang đậm đà bản sắc của Việt Nam.Từ đó góp phần công sức nhỏ bé của mình vào việc Bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa cồng chiêng và tục hát “Séc Bùa”của người Mường.

Nghệ nhân  Quách Văn Thư đang dạy các cháu đánh chiêng

Ở nhiều nơi trên bản Mường hiện nay, tuổi thơ của các bạn nhỏ không còn được nghe tiếng Chiêng gọi mẹ, ngày xuân không còn các phư­ờng Bùa tấu các bài Chiêng đi đến từng nhà ­ x­a. Những dịp cư­ới hỏi, làm nhà, khai mùa cày cấy ...ít khi có tiếng Chiêng vang lên. Ở nhiều bản Mường những ngày lễ hội hay tiễn người quá cố về trời cũng có tiếng Chiêng vang lên nhưng là những âm thanh rời rạc, không còn sức mạnh linh thiêng thấu đến cõi lòng.Nhưng ở bản Mường Đồng Lão,Cẩm Ngọc quê chúng tôi tiếng chiêng vẫn đang ngày ngày  được vang lên đều đặn mỗi khi làng bản có sự kiện quan trọng. “Boong bình boong nổi cồng chiêng vang rừng vang núi”… Những âm vang đó đã đi vào những ca khúc như thúc giục lòng người thêm yêu cuộc sống, hăng say lao động làm giàu cho bản Mường quê chúng tôi. Cuối cùng xin giới thiệu với các bạn ca khúc “Tiếng cồng hội mùa”  của tác giả Cao Văn Anh- một người con của xứ Mường Đủ - Thạch Thành

(Hê..h¬.h¬..hí.. (mµ) Lªu lªu, lµng låc (mµ) kØa r¹c l¸i nhê ngãn nguèn- Mét mÐnh c¬m ¨n nhê §¶ng- Cuéc khång nay tµ kh¹c rèi, nh÷ng ngµy han pa ch¨ng cãn tßi nõa..!)

(Lêi Mư­êng)  - §¶ng cho ha Kinh Mư­íng Thµi Dao cÇn chung tl­ưa, chung t¸ng khµ ti, chung p¹t c¬m ¨n, òong chung vß r¹c, x­íng khÆp chung phui bªn b¶n Mư­¬ng. TÌnh chiªng lªnh íi ïn enh íi, cho xiếng côèng vang vang khÆp nïi røng, b¶n Mư­íng ha cuéc khôống tang lªnh lã khay r»ng v¸ng, ®iÕn tláng lung linh kh¾p trong b¶n M­ưíng. §ảng cho ha nay c¶ pån móa xu©n, tÌng chiªng lªnh cho tlµng c¶ Mư­íng   h¬. h¬ . h¬ xa.

( Lời dịch) - §¶ng cho ta Dao, Th¸i, Mư­êng, Kinh, ®ời chung x©y h¹nh phóc tõ ®©y, c¬m cïng chung ¨n nước chung mét nguån, ta cïng bªn nhau t« ®Ñp cho b¶n Mư­êng.   Næi cång lªn íi b¶n M­ưêng ¬i, ta cïng chung tay x©y cuéc ®êi míi. §iÖn s¸ng trªn mu«n nhµ yªn vui Êm no h¹nh phóc, cã ngµy h«m nay nhí ¬n §¶ng-B¸c. §¶ng cho ta nay c¶ bèn mïa xu©n, næi cång lªn cho cång vang kh¾p Mư­êng xa./.

 

          Dân tộc Mường là một thành tố trong cộng đồng 54 dân tộc anh em cư­ trú lâu đời trên đất nước Việt Nam. Người Mường có quan hệ gần gũi với người Kinh, người Thái, ng­ười Dao... Người Mường có kho tàng dân gian đồ sộ về số lượng,  phong  phú về loại hình, hàm  xúc về nội dung, có giá trị cao về nghệ thuật; trong đó văn hoá Cồng Chiêng và tục hát “Séc bùa”là những di sản vô cùng quý giá được truyền từ đời này qua đời khác, trở thành những dấu ấn nhân văn đậm nét.

         Cũng như nhiều dân tộc anh em khác, việc gìn giữ và bảo tồn nền văn hoá dân tộc – văn hóa công chiêng và tục hát “Séc bùa” của cộng đồng người Mường ở làng Đồng Lão – xã Cẩm Ngọc – Huyện Cẩm Thủy – Thanh Hóa là công việc quan trọng, nghiêm túc. Để công tác bảo tồn và phát triển văn hoá Cồng chiêng nơi đây thực sự có hiệu quả, chúng tôi thiết nghĩ phải có sự đầu tư, quan tâm nhiều hơn nữa của Nhà nước, của các Bộ ban ngành từ TW đến địa phương để văn hoá diễn tấu cồng chiêng và tục hát Séc bùa của người Mường Đồng Lão – Cẩm Ngọc xứ Thanh mãi tồn tại và góp phần làm giàu thêm nền văn hoá dân tộc Việt Nam.

 

                                                Cẩm Ngọc, ngày 25 tháng 9  năm 2017

                                                                     Phạm Văn Hành

                                                Công chức Văn phòng Thống kê xã Cẩm Ngọc

                                                                           Huyện Cẩm Thủy

 

 

 

 

 

 

 

          - Tư liệu sử dụng:

           + “Địa chí Huyện Cẩm Thủy” Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

           +“Đời sống văn hóa các dân tộc ở Thanh Hóa”; tác giả: Phạm Hoàng Mạnh Hà và Trần Thị Liên.

           + Luật Di sản văn hóa Việt Nam ( Quốc hội số 28/2001).

           + “Lịch sử Đảng bộ xã Cẩm Ngọc, 1948-2010”  Nhà xuất bản văn hóa – Thông tin Hà Nội – 2013.

           + Vốn tư liệu của nghệ nhân Quách Văn Thư – thôn Đồng Lão, xã Cẩm Ngọc, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

          - Ứng dụng công nghệ thông tin: Vào tìm kiếm trong trang web: Http://google.com để sưu tầm tranh ảnh, số liệu minh họa.